8 kiểu thông minh của trẻ mà cha mẹ chưa nhận ra

Tiến sĩ Howard Jadner cho rằng trí thông minh của con người gồm 8 loại, chứ không phải chỉ có khả năng về ngôn ngữ hay logic toán học như mọi người lầm tưởng.

Vào những năm 1980, tiến sĩ Howard Jadner, nhà tâm lý học phát triển nổi tiếng người Mỹ kiêm giáo sư Harvard đã đưa ra lý thuyết về “đa trí tuệ”. Lý thuyết này sau đó đã được sử dụng rộng rãi trong giáo dục mầm non ở các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á.

Tiến sĩ Howard Jadner chỉ ra rằng trí thông minh của con người rất đa dạng, bao gồm 8 loại: trí thông minh ngôn ngữ, trí thông minh logic toán học, trí thông minh không gian, trí thông minh vận động cơ thể, trí thông minh âm nhạc, trí thông minh giao tiếp giữa các cá nhân, trí thông minh tự nhận thức, trí thông minh khám phá tự nhiên. Tức là, mỗi người đều có một lợi thế thông minh riêng. Gardner cho rằng trí thông minh là “khả năng giải quyết các vấn đề hoặc đưa ra kết luận”.

Điều này khác với định nghĩa truyền thống của các nhà giáo dục truyền thống, bởi họ tập trung vào việc trau dồi kỹ năng học tập của học sinh về cả ngôn ngữ lẫn logic toán học.

Những trẻ có trí thông minh về logic toán học có thiên hướng trở thành nhà khoa học, kế toán, thống kê, kỹ sư, phát triển phần mềm máy tính… Ảnh: Aboluowang.

8 kiểu trí thông minh bao gồm:

Thông minh ngôn ngữ: Trẻ có khả năng sử dụng hiệu quả ngôn ngữ để diễn đạt suy nghĩ của bản thân. Trẻ điều khiển linh hoạt lời nói, ngữ nghĩa và ngữ pháp nhằm biểu đạt cảm xúc.

Các nghề nghiệp phù hợp: nhà hoạt động chính trị, giáo viên, luật sư, biên tập viên, diễn giả, phóng viên…

Phương pháp bồi dưỡng: Hướng dẫn bé nhìn tranh và nói, rèn luyện kỹ năng tư duy, ngôn ngữ. Dạy bé biết chữ bằng đồ vật, bằng thẻ chữ, khuyến khích trẻ giao tiếp với người khác, đồng thời phát triển ngôn ngữ thứ hai của bé (đặc biệt từ giai đoạn 3-6 tuổi).

Thông minh logic toán học: Trí thông minh này thể hiện qua khả năng tính toán, đo lường, lý luận, phân loại và thực hiện các phép toán phức tạp một cách hiệu quả. Trí thông minh này bao gồm sự nhạy cảm với các cách thức, các mối liên hệ logic.

Nghề nghiệp phù hợp: Nhà khoa học, kế toán, thống kê, kỹ sư, phát triển phần mềm máy tính…

Phương pháp bồi dưỡng: Kết hợp chơi và học, phương pháp giảng dạy Montessori…

Trí thông minh không gian: Đề cập đến khả năng nhận thức chính xác không gian thị giác và mọi thứ xung quanh, bao gồm khả năng thể hiện cảm giác dưới dạng hình ảnh. Trí thông minh này bao gồm sự nhạy cảm với màu sắc, đường nét, hình dạng, các mối quan hệ không gian…

Nghề nghiệp phù hợp: Thiết kế nội thất, kiến trúc sư, nhiếp ảnh gia, họa sĩ, phi công…

Phương pháp bồi dưỡng: cho trẻ viết, vẽ nguệch ngoạc theo ý thích hay chơi với các khối, các mô hình…

Trẻ có trí thông minh không gian có khả năng nhận thức chính xác không gian thị giác và mọi thứ xung quanh nó. Ảnh: Aboluowang.

Trí thông minh vận động cơ thể: Đề cập đến khả năng sử dụng toàn bộ cơ thể để thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, cũng như việc khéo léo sử dụng đôi tay để chế tạo hoặc điều khiển đồ vật. Trí thông minh này bao gồm các kỹ năng thể chất đặc biệt như có thể giữ cân bằng tốt, có sức mạnh, có tốc độ…

Nghề nghiệp phù hợp: Diễn viên, vũ công, vận động viên, bác sĩ phẫu thuật, thợ cơ khí, thợ kim hoàn…

Phương pháp bồi dưỡng: Cho trẻ chơi các đồ chơi có tính vận động, để trẻ làm việc nhà…

Trí thông minh âm nhạc: Đề cập đến khả năng nắm bắt giai điệu, nhịp điệu, âm sắc. Trí thông minh này giúp trẻ có độ nhạy cao với nhịp điệu, giai điệu, có khả năng sáng tạo với âm nhạc.

Nghề nghiệp phù hợp: ca sĩ, nhạc sĩ, nhà phê bình âm nhạc…

Phương pháp bồi dưỡng: cho trẻ chơi các trò chơi có âm thanh (piano, trống). Huấn luyện trẻ sử dụng các dụng cụ âm nhạc, hay các công cụ phối hợp tay – mắt…

Trí thông minh giao tiếp giữa các cá nhân: Đề cập đến khả năng hiểu và tương tác tốt với người khác. Trí thông minh này liên quan chặt chẽ với việc nhận thức và trải nghiệm cảm xúc của người khác.

Nghề nghiệp phù hợp: Chính trị gia, nhà ngoại giao, lãnh đạo, nhà tâm lý học, bán hàng…

Phương pháp bồi dưỡng: Cung cấp cơ hội tương tác với trẻ em cùng độ tuổi, qua đó rèn luyện các kỹ năng giao tiếp.

Trí thông minh tự nhận thức: Đề cập đến khả năng tự hiểu biết để hành động phù hợp. Trí thông minh này đồng nghĩa với khả năng nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của chính mình, nhận ra sở thích, cảm xúc, ý định và khả năng suy nghĩ độc lập.

Nghề nghiệp phù hợp: triết gia, chính trị gia, nhà tư tưởng…

Phương pháp bồi dưỡng: Cho trẻ không gian và thời gian riêng để nhìn nhận, suy ngẫm. Tăng cường giao tiếp để lắng nghe, khuyến khích những cảm nhận của trẻ.

Trí thông minh khám phá tự nhiên: Đề cập đến khả năng quan sát, khám phá thế giới tự nhiên, từ đó phân loại các vật thể. Trí thông minh này thể hiện ở sự tò mò mạnh mẽ, khả năng quan sát nhạy bén và hiểu được các sắc thái khác nhau của một sự vật, sự việc nào đó trong tự nhiên.

Nghề nghiệp phù hợp: nhà thiên văn học, nhà sinh học, nhà địa chất, nhà khảo cổ học, nhà môi trường…

Phương pháp bồi dưỡng: Cho trẻ tham gia các hoạt động gần gũi với thiên nhiên, giúp trẻ quan sát và khám phá động vật, thực vật, các hiện tượng tự nhiên, hoặc nuôi động vật, trồng hoa… trong nhà.

Trí thông minh âm nhạc đề cập đến khả năng nắm bắt giai điệu, nhịp điệu, âm sắc. Ảnh: Aboluowang.

Qua nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học chỉ ra 4 điểm quan trọng của các loại trí thông minh:

Tám loại trí thông minh độc lập với nhau. Loại này có thể rất tốt, trong khi loại khác có thể rất kém. Rất ít người “toàn tài”, có đầy đủ 8 loại trí thông minh này.

Mỗi loại trí thông minh có một giai đoạn tuổi nhất định để phát triển, mà nếu ra khỏi độ tuổi này, việc phát triển là rất khó. Ví dụ, âm nhạc nên được trau dồi khi còn nhỏ, trong khi trí thông minh không gian thì ở độ tuổi nào cũng có thể phát triển.

Tiềm năng bẩm sinh của mỗi người là khác nhau, ví dụ có người mạnh về ngôn ngữ và âm nhạc nhưng có kỹ năng xã hội đặc biệt kém. Thông qua hệ thống đánh giá về lý thuyết đa trí tuệ, mỗi phụ huynh có thể tìm ra khía cạnh thông minh nhất của trẻ để phát triển chúng.

Việc đánh giá trí thông minh của trẻ không phải là để phân biệt ưu/nhược của chúng, mà để nuôi dưỡng tiềm năng, giúp chúng xây dựng giá trị bản thân một cách hiệu quả nhất, dựa trên đặc điểm cá nhân. Việc tìm kiếm điểm mạnh của trẻ giúp phụ huynh tìm ra cho con cách học tốt nhất. Ví dụ, trẻ có trí thông minh ngôn ngữ có thể ghi nhớ bài học rất tốt, trong khi trẻ có trí thông minh vận động cơ thể thì lại có trí thông minh ngôn ngữ kém…

Mỗi trẻ em sinh ra trên đời đều là duy nhất có một khả năng thông minh khác nhau. Trách nhiệm của cha mẹ chính là giúp con cái nhận ra điểm mạnh của mình, thúc đẩy trẻ và tạo niềm tin cho chúng phát triển bản thân trở nên thành công hơn trong học tập lẫn cuộc sống hàng ngày.